Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

Khám phá Bảo Thiên Xuân

(QNO) - Nằm trên triền tây chân núi Nứa ở xã Hành Tín Đông (Nghĩa Hành), Bảo Thiên Xuân có 3 mặt giáp núi, một mặt nhìn ra sông, bao bọc bởi hệ thống bờ thành được xếp đá vững chãi. Người dân địa phương gọi Bảo Thiên Xuân là làng, tên nguyên gốc là làng Xoáy, hoặc xóm Đá.

Vững chãi với thời gian

Con đường đá phủ rêu xanh men dưới chân núi Nứa, dẫn lối chúng tôi vào Bảo Thiên Xuân. Thấp thoáng, những bờ thành xếp đá với chiều cao trên 2,5m, xếp trên nền đá mặt đáy rộng gần 3m, hiện ra nối tiếp nhau, sừng sững. Không vôi vữa, không chất kết dính, những tảng đá tự nhiên được người xưa xếp chồng lên nhau, móc xích thành lũy dài 180m theo hướng Bắc-Nam.

< Một đoạn lũy đá thuộc bờ thành bảo Thiên Xuân.

Nhà nghiên cứu Lê Hồng Khánh nhận định: “Bảo Thiên Xuân là một trong những đồn, bảo nằm trong hệ thống Trường Lũy, may mắn còn giữ được những nét cơ bản về mặt kiến trúc”. Sự kiên cố của thành đá như một nhân chứng hùng hồn cho sự kiên trì, khéo léo, vượt lên thiên nhiên của người Việt xưa.

Qua 2 cuộc chiến tranh, vết tích của bom đạn chỉ san lấp những đoạn lũy ngắn ở đây. Còn thời gian, dường như chỉ phủ lên lớp cây cỏ, rêu phong và tôn thêm sự hùng vĩ của bờ thành vững chãi. Dulichgo

Diện tích bên trong lũy, thuộc khuôn viên làng Thiên Xuân, rộng 14.855m2. Làng Thiên Xuân có 54- 55 nóc nhà với gần 250 người sinh sống. Ông Hồ Xuân Mỹ- Trưởng thôn Thiên Xuân cho biết, tiền hiền khai khẩn làng Thiên Xuân là dòng họ Lê. Đất đai trong làng phần lớn tập trung ở dòng họ này, sau đến họ Nguyễn và họ Hồ (2 dòng họ hậu hiền). Đến nay, thế hệ con cháu tuy không còn sinh sống trong làng Thiên Xuân nhưng vẫn lưu giữ phần đất của ông bà, trồng trọt và chăn nuôi. Ông Mỹ cho biết, trước đây, khuôn viên làng Thiên Xuân chỉ toàn sỏi, đá. Để dựng nhà, ông bà tổ tiên đã xuống bờ sông dưới núi, gánh đất về lồng lên lớp đá, làm nền nhà. Đến nay, lớp đất nền còn phủ khoảng 20-30cm bề mặt đá. Những phần đá làm “cột mốc”, phân chia ranh giới giữa các nền nhà, vẫn còn nguyên như trước.

Người làng Thiên Xuân, phần lớn ở nhà tre vách đất, lợp tranh. Khu vực của làng thường xuyên có thú dữ lai vãng. Do đó, ngoài lũy đá bao bọc bên ngoài, làng còn có 2 cổng gỗ lớn, buổi tối sẽ cắt cử người đóng cổng. Người xưa kể lại, làng Thiên Xuân có đền thờ Sơn thần, là một con cọp trắng đã về chết trong làng. Gắn với đền thờ Sơn thần là nhiều câu chuyện thần bí về sự che chở của cọp trắng đối với bà con xóm Đá. Hằng năm, đến ngày 27 tháng Chạp, dân làng lại làm lễ cúng tế, tạ ơn Sơn thần.

Cần bảo tồn và phát triển

Thời gian những người dân cuối cùng chuyển đi khỏi làng, theo nhiều bậc cao niên trong địa phương là vào khoảng năm 1946. Bà Nguyễn Thị Tài (88 tuổi), vợ ông Hồ Trọng Tấn, người đã soạn tờ trình gửi đến các cơ quan chức năng, cung cấp nhiều thông tin quý giá về xóm Đá cho các nhà nghiên cứu sau này, cho biết: “Người dân xóm Đá trước đây sử dụng nguồn nước trong hang núi chảy ra. Do đó, hình thành hệ thống dẫn nước bằng mương xếp đá, dẫn nước từ suối Hố Cái (núi Nứa) về làng. Dulichgo

Những năm chiến tranh chống Pháp, cách mạng đã động viên bà con rời làng để tránh bệnh tật từ nguồn nước”. Gia đình bà Tài là những người đầu tiên rời làng Thiên Xuân. Theo bà Tài, thời điểm này, con sông trước làng đã bị bồi đắp thành cánh đồng trũng. Nhiều người dân đã xuống núi, trồng trọt trên cánh đồng trũng đó. Dần dần, họ dời nhà khỏi xóm Đá, xuống định cư ở xóm Vườn, nằm trước cánh đồng trũng. Làng Thiên Xuân bị bỏ hoang từ đó.

Năm 2008, Bảo Thiên Xuân được công nhận là di tích quốc gia, nằm trong hệ thống Trường Lũy. Xét về thời gian hình thành, vai trò đồn trú, phòng thủ và vai trò làng, xóm, khu dân cư của di tích này, đến nay vẫn còn nhiều giả thuyết trái chiều. Dulichgo

Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ - Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh cho biết: “Người dân địa phương lâu nay vẫn xem Thiên Xuân là một cái làng mà các dòng họ nơi đây đã cư trú từ nhiều thế kỷ trước. Còn một số nhà nghiên cứu thì xem đây là một cái bảo trong hệ thống đồn bảo thuộc Di tích Trường Lũy. Tuy nhiên, dù xét trên khía cạnh nào thì cũng không làm thay đổi giá trị lịch sử của di tích Thiên Xuân. Chúng ta có thể ghi nhận nơi đây như một kiểu làng truyền thống theo mô hình phòng thủ, là nơi cư trú của một cộng đồng dân cư xưa. Và cần quan tâm đến vấn đề bảo tồn tính nguyên vẹn cũng như phát huy các giá trị lịch sử gắn liền với du lịch cho di tích này”.

Ông Vũ cho biết thêm: “Hiện nay, UBND tỉnh đã có chủ trương cho xây dựng đề án bảo tồn và phát huy giá trị di tích Trường Lũy, gắn với phát triển du lịch, trong đó có các đồn, bảo. Sở VHTT và DL đã lựa chọn một số đoạn di tích và một số bảo để tiến hành trùng tu, tôn tạo, trong đó có di tích Bảo Thiên Xuân”.

Theo Hà Xuyên (báo Quảng Ngãi)
Du lịch, GO!

Khu du lịch Bến Gót

Khu du lịch Bến Gót nằm tại Ngã ba Hạc thuộc hai phường Bạch Hạc và Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Khu du lịch có diện tích khoảng 100ha, được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, phần phía Bắc thuộc phường Bến Gót đây là phần chủ yếu, còn phần phía Nam thuộc phường Bạch Hạc.

Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi.

Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc...

Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,... nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước. Dulichgo

Khu du lịch Bến Gót có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh.

Khu du lịch bao gồm các khu vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,... được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc. Dulichgo

Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân - Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái.

Theo DulichPhutho
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Nghiêu Sơn Lĩnh - Cao Bằng

Sau khi Trần Dụ Tông mất, nhà Trần suy vong. Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, lập ra nhà Hồ. Quý Ly có nhiều chính sách cải cách đất nước không hợp với lòng dân. Lòng dân đã ly tán, nay ly tán thêm. Phong kiến phương Bắc là, nhà Minh lợi dụng điều đó cướp nước ta. Chúng đặt ách đô hộ tàn bạo. Chúng tiến chiếm Cao Bằng, đến đâu cướp phá tàn bạo, giết người, cướp của; nhân dân cả nước phẫn nộ, nhất tề đứng lên đánh giặc cứu nước.

Ở Cao Bằng có 2 hào trưởng đó là Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái kết bạn từ lâu - đứng ra tụ tập dân chúng trong miền đánh giặc. Nông Đắc Thái giỏi việc cung nỏ, có đội quân hàng trăm người, bắn trăm phát trăm trúng. Bế Khắc Thiệu giỏi việc quân, được tôn làm chủ tướng, bàn và chọn dãy núi Nghiêu Sơn Lĩnh làm nơi đóng quân, luyện quân đánh giặc; chọn vùng Phúc Tăng - Kỳ Chỉ làm hậu phương sản xuất lương thực nuôi quân và là nơi dấu quân. Hàng nghìn trai tráng theo cờ khởi nghĩa đánh giặc.

Vùng núi Nghiêu Sơn Lĩnh thuở đó cây cối âm u rậm rạp, là một dải núi nằm bên bờ hữu ngạn sông Bằng Giang. Có 2 ngọn núi cao là Khau Thước ở phía đông, Khau Khiêu ở phía tây. Chen giữa 2 ngọn núi là những khe sâu, có dải đồi trải rộng đến thành Nà Lữ, địa thế rất hiểm trở. Bế Khắc Thiệu cho san ngọn núi Khau Thước - mặt núi trở nên bằng phẳng có chiều dài gần 500 m, chiều rộng gần 100 m để dựng nhà kiên cố làm nơi trú quân, luyện quân.

Ngày nay còn di tích, có 2 đường lũy chính chạy dài hai phía quanh núi, chân thành rộng 15 m, thành cao 5 m. Ngọn Khau Khiêu cao ngất làm tiền tiêu quan sát giặc thù. Lại cho dân chúng và nghĩa binh khai phá đất đai vùng Phúc Tăng, Kỳ Chỉ thành ruộng rẫy cấy lúa, trồng ngô, lấy lương thực nuôi quân, dân. Dulichgo

Bế Khắc Thiệu nhiều lần đem quân vây thành Nà Lữ. Quân Minh nao núng, trốn hết về đóng ở Mộc Mã (thị xã Cao Bằng ngày nay). Nhiều lần, quân Minh đến vây thành Khau Thước, bị đội quân cung nỏ của Nông Đắc Thái bắn diệt nên chúng rất sợ hãi. Quân giặc thiếu lương ăn đã cướp thóc lúa, trâu bò, lợn của dân chúng. Nghĩa binh, dân chúng hợp lực đánh chặn lại. Chúng bỏ chạy, Bế Khắc Thiệu cho lập các dẻ như làng chiến đấu làm nơi giấu lương thực, trâu bò, tránh ẩn cho phụ nữ, người già, trẻ em, có dân quân bảo vệ phòng khi kẻ thù kéo đến cướp phá.

Giặc Minh lại cho tăng quân đến một vệ (50.000 người) đóng khắp nơi, trở lại chiếm thành Nà Lữ. Quân giặc càng đông, càng thiếu lương thực. Chúng khốn đốn, xin đến đàm phán với Bế Khắc Thiệu nhưng bị từ chối. Một đêm cuối thu năm Bính Ngọ (1426), tướng giặc Trình Dương đem đại quân, có kẻ gian dẫn đường, từ thành Nà Lữ, vượt qua Kẻ Chẵng, Roỏng Nguổc men theo chân núi phía tây của ngọn núi Khau Khiêu, tiến vào thung lũng Nà Khuổi, có ý định đánh tập hậu vào doanh trại nghĩa quân ở Khau Thước. Nghĩa quân phát hiện, báo cáo lên chủ tướng, Bế Khắc Thiệu cho quân mai phục dầy đặc hai ven núi thung lũng Nà Khuổi. Dulichgo

Khi quân địch lọt vào trận địa, Bế Khắc Thiệu phát lệnh tấn công, quân thù không kịp trở tay chết như rạ, kêu la thất thanh, tiếng khóc vang động cả khe thung lũng Nà Khuổi. Tướng Trình Dương rất sợ tay cung nỏ của Nông Đắc Thái, mặc áo giáp, đeo mặt na chỉ còn hở ra 2 con mắt, lọt vào trận địa, Nông Đắc Thái phát hiện, bật dây cung, một mũi tên xuyên thẳng vào mắt phải của Trình Dương, quân Minh dìu Trình Dương ra khỏi trận địa... Trời sáng, nghĩa quân thu dọn chiến trường, mới biết kẻ thù bị giết đến 4.000 tên. Xác giặc ngổn ngang, máu giặc chảy đỏ cả dòng suối Nà Khuổi. Nghĩa quân truy giặc đến thành Nà Lữ... Thành đã bỏ ngỏ, quân giặc đã trốn hết. Nhiều tin túc đưa về, quân địch đã trốn hết về nước. Cuối mùa thu năm 1426, Cao Bằng đã sạch bóng quân thù, hoàn toàn giải phóng.

Bế Khắc Thiệu xưng làm Châu Mục cai quản miền đất Cao Bằng; Nông Đắc Thái được coi việc quân. Nhớ công lao của Bế Khắc Thiệu, dân chúng đổi tên Khau Thước thành tên Khau Khắc Thiệu.

Nay ngọn núi này trong dải núi Nghiêu Sơn Linh nằm sừng sưng giữa lòng máng sông Bằng Giang. Là giao điểm của ba xã: Hồng Việt, Hoàng Tung, Bế Triều. Nghiêu Sơn Lĩnh là một thắng cảnh, một di tích lịch sử đáng ghi nhớ.

Theo E-cadao.com, ảnh internet
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

“Đò qua Thạch Hãn xin chèo nhẹ…”

(ANTĐ) - Trong những trải nghiệm của người đi “phượt”, không chỉ có phong cảnh non xanh nước biếc, hay những câu chuyện vui vẻ, những trải nghiệm và thử thách bản thân, hành trình khám phá của chúng tôi còn có cả những câu chuyện lịch sử, hành động tri ân, tưởng nhớ, hướng về nguồn cội. Cũng bởi vậy, Quảng Trị là một trong những địa danh không thể không đến, không thể không thăm để hoài tưởng, tri ân, nhớ về những mốc thời gian cùng những ký ức lịch sử bi tráng, hào hùng của một thời “tài hoa ra trận”.

Quảng Trị, mảnh đất lịch sử gợi lên những nỗi niềm, những xót xa về một thời bom đạn chiến tranh. Mỗi người Quảng Trị ngày nay khi nói về quê hương mình đều nhắc đến “đặc sản” “gió Lào, cát trắng và những câu chuyện lịch sử mãi được khắc ghi”.

Tôi đến Thành cổ Quảng Trị trong một hành trình xuyên Việt và cũng là đi tìm những dấu tích ở vùng đất miền Trung khắc nghiệt này. Thành cổ Quảng Trị không chỉ là một tòa thành, đó còn là nơi lưu giữ biết bao ký ức về cuộc chiến 81 ngày đêm khốc liệt. Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị được xây ngay trong khuôn viên, bên cạnh một gò đất cao giữa thành mà như những cán bộ hướng dẫn du khách tham quan vẫn nói: “Có thể coi đây là nấm mồ chung cho những người chiến sỹ đã ngã xuống trên mảnh đất này. Bởi ở trong Thành cổ, dưới mỗi tấc đất, mỗi ngọn cỏ, gốc cây đều là máu thịt, là những tấm thân liệt sỹ đã bị chôn vùi bởi bom cày, đạn xới”. Dulichgo

Có lẽ cũng bởi vậy mà trên gò đất ấy được dựng lên một lư hương lớn với ngọn tháp như khắc lên trời, để ghi dấu về những ngày lịch sử đã qua của một Thành cổ Quảng Trị anh hùng. Trên những bức tường gạch bao quanh, những bờ hầm vẫn còn đó chi chít dấu đạn, vết bom. Nơi những bước chân của thế hệ hôm nay thảnh thơi dạo bước, vẫn còn đó những dấu tích xưa xanh xám, mốc meo màu chiến tranh, màu bi tráng.

Dòng Thạch Hãn nằm nghiêng bên Thành cổ, cứ trôi đi không lưu lại chút gì quá khứ. Ấy vậy mà những người đến tham quan, chiêm bái vẫn thấy nghẹn ngào.

Dường như có gì đó nức nở sâu trong lòng người đứng nhìn dòng xuôi ra biển lớn. Bởi trên dòng sông ấy, ngày nay, những con thuyền vẫn nhẹ nhàng xuôi ngược, những chuyến đò ngang thong thả nối đôi bờ. Đứng trước dòng sông ấy, có nhà thơ quân đội từng viết để tưởng nhớ, tri ân những người đồng đội: Đò qua Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.

Dù xuôi Nam, ngược Bắc hay ghé ngang đường 9 Khe Sanh. Những dấu ấn Thành cổ, Thạch Hãn sẽ mãi lưu trong lòng những người yêu xuôi ngược trên hành trình khám phá để thêm hiểu và thêm yêu quê hương.

Theo Vũ Thanh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Thăm nghĩa trang lớn nhất VN

(PNO) - Nghĩa trang Trường Sơn tọa lạc trên khu đồi Bến Tắt, huyện Gio Linh (Quảng Trị). Vào những ngày rằm và mùng một, trên mỗi ngôi mộ đều có một cây hương nghi ngút cháy.

Nếu có dịp ra miền Trung, bạn hãy ghé lại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, thắp hương trên những ngôi mộ, nơi yên nghỉ của các liệt sĩ thuộc lực lượng Thanh niên xung phong, bộ đội, dân công hỏa tuyến..., những người đã xây dựng và chiến đấu bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại.

Nghĩa trang Trường Sơn tọa lạc trên khu đồi Bến Tắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh, cách thị xã Đông Hà (Quảng Trị) khoảng 38 km về phía Tây Bắc.

< Đường mòn Hồ Chí Minh  dẫn đến Nghĩa trang Trường Sơn.

Không chỉ là nơi yên nghỉ của các liệt sĩ, Nghĩa trang Trường Sơn còn là tác phẩm nghệ thuật với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp và các công trình kiến trúc ẩn chứa những hàm ý sâu xa của nhà thiết kế.

Toàn bộ nghĩa trang được bố trí trên một khu vực gồm 11 quả đồi liên tiếp, rộng hơn 100 ha. Quả đồi trung tâm cao 32,4m là nơi đặt tượng đài và sân hành lễ. Đài tưởng niệm bằng đá trắng có hình một ngọn lửa đang cháy, cao vút uy nghiêm. Phía sau tượng đài, cây bồ đề cổ thụ dang những tán lá rậm rạp làm thành một khoảng râm mát rượi.

< Đài tưởng niệm bằng đá trắng có hình một ngọn lửa đang cháy.

Hai quả đồi hai bên một là nhà bia, một là khu tượng gồm tượng hợp đồng binh chủng, tượng cô gái chữa đường ống xăng dầu, tượng tuổi trẻ hành quân vào Nam chiến đấu, tượng bà mẹ Lào, tượng cô gái Vân Kiều, tượng cô gái giao liên...
Mỗi công trình điêu khắc là một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo có thể khiến bất cứ ai cũng thán phục. Dulichgo

< Mỗi công trình điêu khắc là một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo.

10.327 ngôi mộ liệt sĩ trải trên năm quả đồi, uốn lượn theo thế hình vòng cung hướng về phía Tây. Các khu mộ được an táng theo từng tỉnh, thành phố...

Xen kẽ giữa các khu mộ là những khu rừng thông rậm rạp, ngày đêm vi vu bài ca của gió. Tiếng các loài chim ríu rít, nhiều nhất là chim bắt cô trói cột mà các chiến sĩ ngày xưa hay gọi là chim “Khó khăn khắc phục”.

Những con đường trong nghĩa trang dẫn đến từng khu đồi đều trải nhựa. Lối đi giữa các ngôi mộ được lát đá, gạch hoặc tráng xi măng. Những vườn hoa, cây cảnh nở hoa bốn mùa, man mác hương thơm. Trong mỗi khu mộ đều có nhà tưởng niệm riêng, với lối kiến trúc đặc trưng từng vùng quê của liệt sĩ.

Không chỉ người trong nước, nhiều đoàn khách nước ngoài đã vượt hàng vạn dặm đến thắp hương tại nghĩa trang. Sẽ rất khó khăn khi thắp hương cho từng ngôi mộ. Vì vậy, đoàn nào đến đây cũng thắp chung một bó hương trên đài Tưởng niệm tại khu khánh tiết trên đồi trung tâm trước khi đến khu mộ liệt sĩ tỉnh nhà.

< Vào những ngày rằm và mùng một, trên mỗi ngôi mộ đều có một cây hương nghi ngút cháy.

Tuy vậy, vào những ngày rằm và mùng một, trên bất cứ ngôi mộ nào cũng có một cây hương nghi ngút cháy. Để làm công việc này, các anh chị quản trang phải đi liên tục suốt một ngày dài, với hàng vạn bước chân. Vậy mà đã hơn 30 năm nay, chị Nguyễn Thị Bé, người quản trang đầu tiên và kỳ cựu nhất, vẫn cần mẫn với công việc. Hàng ngày, chị và các đồng nghiệp khác mải miết đón khách, quét dọn, làm vệ sinh, thắp hương trên các ngôi mộ.

Theo Giao Thủy (Báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014

Hang Ông Giáp ở Quảng Bình

Ngược con đường 10 huyền thoại, chúng tôi lên xã Ngân Thủy (huyện Lệ Thủy), ghé thăm lại nơi đã từng in dấu chân Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm xưa, nơi người dân Vân Kiều vẫn gọi nó bằng cái tên trìu mến - "Hang Đại tướng", nơi mà câu chuyện về vị Đại tướng lừng danh vẫn được bà con kính cẩn lưu giữ và kể cho nhau nghe.

Ở xã Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) có một quần thể hang động tuyệt đẹp mang tên hang Ông Giáp. Đó là nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng trú ẩn làm việc và bộ đội Trường Sơn nghỉ chân trước khi hành quân vào chiến trường miền Nam.


< Trên bức tường đá phía đông của hang vẫn còn rõ dòng chữ: "1- 1972- đoi co".

Người Vân Kiều xã Ngân Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình) tự hào kể rằng bản làng họ là nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng đến thị sát một thời gian để nghiên cứu địa hình, tìm cách chi viện cho chiến trường miền Nam vào những năm 1972-1973. Ngày đó, Đại tướng từng ở trong hai hang động dọc rặng núi đá vôi Khe Sung, cạnh đường 10 nối đông và tây Trường Sơn.

Từ “nhà hát lớn” của bộ đội Trường Sơn

Chúng tôi được anh Hồ Lâm Hậu, người địa phương, dẫn đường vào hang Ông Giáp. Đó là một hang động nước, phần ngoài được tôn cao để kê bục làm việc. Nước trong hang không biết từ nguồn nào nhưng trong vắt, lội ngập thắt lưng. Qua một ngách nhỏ là một buồng hang lớn, rộng chừng 30 m, đi sâu đến 50 m, trong đó là thế giới của thạch nhũ lung linh, vàng óng, đẹp đến mê hồn. Dulichgo

< Lối vào hang Ông Giáp ở Khe Son đầy thạch nhũ với nhiều hình thù lạ lẫm, đẹp mê hồn.

Một trong những người già nhất vùng là ông Hồ Văn, năm nay đã 80 tuổi, cho biết trước đây hang động này có tên là hang Khe Sung, vì con suối chảy ra từ hang động có nhiều cây sung. Nhưng sau ngày Đại tướng vào ở để làm việc, người dân tự đặt tên và gọi là hang Ông Giáp một cách tôn kính để ghi nhớ công lao của vị tướng tài ba của dân tộc.

Thật ra, trong vùng còn có một hang động khác cũng được đặt tên là hang Ông Giáp, đó là hang ở Khe Son, cách hang Khe Sung chừng 1 km. Đấy là một khu phức hợp kỳ công đầy tuyệt tác của thiên nhiên.

Chúng tôi được người dân địa phương vạch rừng tìm đến, đường dẫn lên hang có 150 bậc cấp dưới tán cây rậm rạp. Vết tích trên tường ghi là xây dựng trong những năm 1970. Dòng chữ màu đỏ ghi “Sở chỉ huy” vẫn còn tươi nguyên. Các con số ngày tháng vẫn còn lộ rõ. Muốn vào hang động phải lách qua một ngách nhỏ, chỉ một người mới chui qua lọt.

Chúng tôi lách người khẽ bước vào, một hành lang rộng rãi dẫn vào một khán phòng khổng lồ. Trong đó đủ cho khoảng 500 người cùng làm việc, có lỗ thông hơi hút khí từ ngoài vào. Đang ở trời nóng bức, vào khán phòng được hưởng không khí mát rượi. Khán phòng được xây dựng tường dày, đổ mái bằng, trên các bức vách vẫn còn đó đường dây điện đài, dấu tích của một thời chưa xa. Theo lối dẫn nhỏ, chúng tôi lên tầng hai của hang động, lối xây cất kiên cố, chắc chắn, trên đó rộng hơn ở tầng dưới, đủ chỗ cho cả ngàn người. Dường như mọi việc của mấy chục năm trước chỉ vừa diễn ra từ hôm qua, thấy đâu đó một không khí nhộn nhịp cho chiến dịch đánh vào Hạ Lào của mùa khô 1972 năm xưa.

Đi ngược lên dãy núi Khe Sung chừng một cây số nữa chúng tôi gặp hang Văn Công, một hang động thoáng rộng, nhiều thạch nhũ kỳ lạ. Nơi đây, các đoàn quân ra trận vào Nam từng ghé lại để thưởng thức các tiết mục văn nghệ do các văn công biểu diễn.

Cựu chiến binh Đinh Tấn Lực, người từng phục vụ trong hang Văn Công trước đây, cho biết: “Chúng tôi hát trên bục cao, dưới lòng hang là vài ngàn bộ đội, có khi con số lên đến cả 3.000 trong lòng hang này. Nhiều khi đang diễn văn nghệ, máy bay địch đến do thám, rồi trút bom nhưng mọi sự vẫn an toàn, bộ đội vẫn nghe hát để ngày mai lên đường”. Thiếu tướng Phan Khắc Hy, nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, nói: “Đó là những cơ sở an toàn và vững chắc, bí mật và bất ngờ, kín đáo để bộ đội yên tâm hành quân, nghỉ ngơi và điều dưỡng”.

Đến nơi dừng chân của vó ngựa Cần Vương

Bản Cửa Mẹc cũng thuộc xã Ngân Thủy, nằm dưới dãy núi Cửa Mẹc hùng vĩ, nơi đó có hang Vàng sừng sững trải qua hàng triệu năm với nhiều dấu tích thời gian. Tương truyền, thời kỳ Cần Vương, khi bôn tẩu ra tây Quảng Bình và Hà Tĩnh, vua Hàm Nghi đã từng ghé hang này trú chân. Ở đây, người Vân Kiều trong vùng vẫn truyền ngôn câu chuyện về đoàn tùy tùng xa giá đã chôn trong hang một khối lượng lớn vàng trong đó.

Chuyện kể rằng những năm cuối thế kỷ 19, có hai người Vân Kiều lạc vào hang, đốt đuốc trú trong đó ba ngày. Ngoài trời mưa tầm tã, nước ở trên đỉnh núi trôi tuột vào lòng hang, chảy xối xả ở một lỗ thông hơi, dòng nước xói dần bụi bặm đất đai ở góc hang. Trong ánh lửa bập bùng, thấy lóe lên vật dụng màu vàng, hai người Vân Kiều liền đến xem và phát hiện nhiều đồng tiền vàng, một số kiếm báu, các đồ đồng. Họ về kêu dân làng đi đào, phát hiện rất nhiều vàng trong hang.

Thời đó có một thủ lĩnh trong vùng theo tiếng gọi Cần Vương đã đến động viên dân bản nộp lại cho người đại diện của vua Hàm Nghi từ Minh Hóa vào. Họ nộp hết cho nhà vua. Và từ đó hang Vàng được định danh.

Câu chuyện cứ hư hư, thực thực. Chúng tôi hỏi những người Vân Kiều già ở Cửa Mẹc như ông Hồ Vừ (75 tuổi) thì được trả lời: “Mình nghe người xưa kể thế chứ chưa thấy vàng trong đó bao giờ. Chắc bố mình hay ông nội mình thấy mới kể cho mình nghe thôi”.

Chúng tôi bước vào bên trong hang Vàng. Một không gian lộng lẫy, cổ xưa hiện ra. Quanh hang có đến ba cửa và bốn lỗ thông hơi tự nhiên. Nơi cao nhất khoảng 50 m, rộng nhất hơn 40 m. Có một buồng hang ở tầng thứ hai rộng đến 70 m, nơi đó được dùng làm khán phòng hội họp thời chiến, có thể chứa hơn 2.000 người. Điều đặc biệt của hang động này là được cải tạo, xây dựng nền hang bằng phẳng để làm nơi chứa hàng và nghỉ ngơi tránh bom đạn. Trên vách hang có đề từ một bài thơ bằng nét than của bộ đội ngày xưa: “Trăng lên đỉnh núi trăng tà/ Sao không đứng đó xem ta bốc hàng/ Bên anh thi với bên nàng/ Đố ai ghi được chữ vàng chiến công”.

Thạch nhũ trong hang vẫn còn nguyên vẹn với những cột trụ tự nhiên cao hàng chục mét, những bức tường thạch nhũ chạy dài ngút ngát. Chúng không cũ nát vì khói thuốc của bom đạn mà vẫn tươi nguyên những tí tách từ dòng nước trên đỉnh núi.

< Bức tường thạch nhũ ở hang Vàng.

Sự cuốn hút của hang Vàng còn có một dấu ấn khác. Ở cuối căn phòng hơn 1.000 m2 là vương quốc của loài dơi. Chúng đông dễ chừng đến cả hàng triệu con. Tiếng đập cánh của chúng vù vù như tiếng động cơ trực thăng bên tai. Dưới nền đất là bãi phân của chúng dày đến 3 cm. Người dân địa phương nói vào khu vực đó không nên hút thuốc hoặc dùng lửa, nếu không coi chừng ngọn lửa sẽ bùng lên bởi nơi đây chứa đầy khí metan do phân dơi sinh ra. Thấy động, đàn dơi đang nằm treo tít trên trần hang bỗng giật mình vỗ cánh bay loạn xạ từng lớp, từng lớp ngỡ như không bao giờ hết.

Có thể nói vẻ đẹp nguyên sơ của hang Ông Giáp và hang Vàng vẫn còn nguyên sơ, kỳ vĩ. Tuy vậy, các hang động ở đây đang gióng lên nỗi lo cần được bảo vệ. Hang Ông Giáp ở Khe Sung đang bị bôi bẩn bởi những người địa phương đưa bia và thực phẩm vào ăn nhậu. Trong khi đó, hang Ông Giáp ở Khe Son lại bị ai đó vẽ bẩn lên mặt tường. Đó là chưa nói hang Văn Công hiện đang bị người dân tìm bẻ thạch nhũ về làm hòn non bộ. Duy chỉ có hang Vàng ở Cửa Mẹc là nguyên vẹn vì người trong vùng không cho người lạ vào phá phách.

Theo Minh Quê (báo Pháp Luật TPHCM)
Du lịch, GO!

Ký sự đường 10 - Kỳ 2: Hang Đại tướng

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Vượt đèo Gió, thăm đá cổ

(ANTĐ) - Quốc lộ 279 đoạn qua huyện Quang Bình, Hà Giang là một cung đường hiếm có bởi nó là đoạn hiếm hoi được tạm gọi là bằng phẳng, không lên dốc xuống đèo. Tuy nhiên, từ trị trấn Yên Bình, rẽ lên phía Bắc rời đường 279 để đến thị trấn Cốc Pài, huyện Xín Mần thì cung đường hoàn toàn đổi khác.

Đèo Gió như bức tường thành dựng đứng chặn giữa con đường như để bảo vệ, gìn giữ những điều bí ẩn ở vùng đất hoang sơ, xa ngái này. Nơi còn ẩn giấu những điều bí ẩn nhất của vùng cao, của con người vùng cao. Ấy chính là Bãi đá cổ Nấm Dẩn, một bãi đá có niên đại khoảng hơn 1.000 năm mà cho đến nay, những bí ẩn xung quanh các hình vẽ khắc trên đá vẫn chưa có lời giải đáp.

Bãi đá cổ Nấm Dẩn nằm giữa dãy núi Tây Ðản phía Bắc và vùng đồi núi thấp Nấm Dẩn ở phía Nam, ngay bên bờ suối Nậm Khoòng. Một con suối nhỏ chảy chen vào giữa các khe đá lớn tạo thành nhiều con thác nhỏ thơ mộng. Các ghềnh đá chảy xiết bởi độ dốc cao tạo nên âm thanh thay đổi, khi róc rách lúc lại rì rào khẽ như tiếng mưa. Bản nhạc suối trộn với âm thanh cây lá và tiếng gió vi vu của con đèo tạo nên hòa tấu vô cùng sinh động.

Nấm Dẩn theo tiếng Nùng có nghĩa là khu vực nguồn nước, vị trí nơi đầu con suối. Khu vực bãi đá cổ Nấm Dẩn còn có một tên gọi khác là Nà Lai Shứ (ruộng nhiều chữ). Nơi các nhà khảo cổ đã phát hiện 7 phiến đá lớn có chạm khắc với niên đại khoảng hơn 1.000 năm và 2 di tích cự Thạch (đá lớn) có niên đại khoảng 2.000 năm.

Trong toàn khu vực xã Nấm Dẩn có bốn tảng đá chạm khắc hình vẽ cổ nhưng tảng đá ở thôn Nấm Dẩn có nhiều hình vẽ được chạm khắc nhất với tổng số 79 hình gồm:

40 hình tròn, 2 hình chữ nhật, 1 hình vuông, 6 hình hồi văn hình vuông, 2 hình hồi văn hình tròn, 6 hình vạch khắc song song giống như bậc thang, 5 hình biểu tượng sinh thực khí nữ, 2 hình bàn chân người, 4 hình người trong tư thế giơ hai tay, dạng hai chân, một số hình như mô tả ruộng bậc thang, đồi núi, còn lại là những hình với nhiều hình thù khác nhau. Dulichgo

Theo các nhà nghiên cứu, di tích cự thạch tại Nấm Dẩn có thể liên quan đến tục thờ Thần Đá của các cư dân tiền sử ở đây. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là giả thiết. Dulichgo

Bãi đá cổ Nấm Dẩn là di tích được các nhà chuyên môn quan tâm, nghiên cứu. Giá trị nghiên cứu khoa học của chúng rất cao bởi hầu như chưa có sự xâm hại của con người. Di tích hầu như còn được bảo tồn nguyên trạng.

Thong thả bước chân trên những bậc đá dọc theo dòng suối Nậm Khoòng, du khách sẽ đến khu vực trung tâm bản Nấm Dẩn, nơi có những phiến đá chữ kỳ lạ và bí ẩn. Thỉnh thoảng, bắt gặp những phiến đá bằng phẳng như tấm phản lớn nằm bên bờ suối. Dừng chân, thả hồn bên suối ngắm nhìn phong cảnh thiên nhiên như một bức tranh sơn thủy. Thả chân bên dòng suối mát để thư giãn trước khi tiếp tục bước phiêu bồng. Qua chặng đường chừng hơn nghìn mét với vài trăm bậc đá, qua những thôn bản với nếp nhà sàn vương khói sương, bãi đá cổ Nấm Dẩn sẽ đem đến du khách những điều ngạc nhiên thú vị, đầy bí ẩn khơi gợi trí tò mò.

Theo Vũ Thanh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Nguyên sơ bãi đá cổ Nấm Dẩn (Hà Giang)
Đến thác Táng Tinh và Bãi đá cổ Nấm Dẩn

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Ký ức...

Bùi Hoằng: Nhân dịp ngày thành lập QĐNDVN, tôi gửi anh bài viết và một số hình ảnh chuyến đi Trường Sơn tháng 7/2014.

Sự ra đời  và bước trưởng thành của Quân Đội NDVN

Từ cuối năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bắt đầu, cách mạng Việt Nam chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ trọng tâm vào giải phóng dân tộc, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Trong phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, các cuộc khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ đã diễn ra trên nhiều địa phương. Những tổ chức vũ trang không tập trung và tập trung sinh ra từ lực lượng cách mạng đông đảo của quần chúng đã xuất hiện trong khắp cả nước...

< Dâng hương tưởng niệm Mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Vũng Chùa-Đảo Yến.

Sự phát triển mạnh mẽ, rộng khắp của phong trào đấu tranh của quần chúng, sự trưởng thành nhanh chóng của các tổ chức vũ trang quần chúng đòi hỏi cách mạng Việt Nam lúc này phải có một đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức.

Sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị, ngày 22-12-1944 ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN được thành lập, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Chỉ thị Người ghi rõ: "Tên: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền".  "Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác".  Những đội vũ trang tập trung và không tập trung trong cả nước sinh ra từ lực lượng cách mạng đông đảo của quần chúng, là những tổ chức tiền thân của các lực lượng vũ trang nhân dân, của quân đội nhân dân.

< Dâng hương tại nghĩa trang TNXP tại xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng bình hồi 17h ngày 26/7/2014, cùng với lãnh đạo các ban ngành huyện Quảng Nình.

Tháng 4-1945, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ của Đảng quyết định hợp nhất các tổ chức vũ trang trên cả nước thành lập Việt Nam giải phóng quân. Cách mạng Tháng Tám thành công. Việt Nam giải phóng quân được đổi tên thành Vệ quốc quân, rồi thành Quân đội quốc gia Việt Nam và về sau, đến năm 1950 được đổi tên là Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngày 22-12-1944, ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được lấy làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trên cơ sở đánh giá thời cơ và tình hình cách mạng trong nước, Đảng ta đã lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đồng loại đứng dậy tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước một tình thế rất phức tạp và chồng chất khó khăn. Cùng một lúc, chúng ta phải đối phó với cả “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”. Ở miền Bắc, gần 20 vạn quân Tưởng vào giải giáp phát xít Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Ở miền Nam, thực dân Pháp được quân Anh giúp sức đã trắng trợn gây hấn ở Nam Bộ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta nhất tề đứng dậy hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.  Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, cuộc chiến đấu ở thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã đã tiêu hao, tiêu diệt và giam chân một lực lượng lớn quân địch, tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào cuộc kháng chiến lâu dài.

Tháng 6/1950, ta mở Chiến dịch Biên Giới nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đường thông với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, từ năm 1949 - 1952, Quân đội ta đã thành lập được nhiều đại đoàn chủ lực, như: Đại đoàn 304, 308, 316, 325 và Đại đoàn công pháo 351. Tháng 9/1953, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954. Với 5 đòn tấn công chiến lược, quân và dân ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, nắm quyền chủ động trên các chiến trường Đông Dương và làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng cơ động của Na-va, buộc chúng phải căng ra đối phó ở khắp nơi. Kế hoạch của Na-va bắt đầu bị phá sản.

Trước thời cơ thuận lợi, ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cùng với thắng lợi trên các chiến trường khác đã góp phần giáng đòn quyết định làm thất bại kế hoạch Na-va, đồng thời có ý nghĩa quyết định kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trực tiếp dẫn đến thắng lợi của Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương, buộc pháp phải công nhận độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

< Làm lễ cầu siêu cho các liệt sĩ tại nhà bia ngã ba Dân Chủ, trên tuyến đường HCM nhánh Tây,  thuộc địa phận Xã Hướng Lập, Hướng Hóa, quảng Trị.

Chiến thắng Điện Biên Phủ chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương, tạo cơ sở và điều kiện vững chắc để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, thống nhất Tổ quốc đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sau năm 1954, miền Bắc hừng hực khí thế cách mạng bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, cải cách ruộng đất, phát triển sản xuất, khôi phục kinh tế đã tạo ra những chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội, là chỗ dựa và hậu phương lớn của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Ở miền Nam, Mỹ ra sức xây dựng ngụy quân, chỉ huy chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áo đẫm máu những người yêu nước, hô hào “Bắc tiến”, “lấp sông Bến Hải”; mở các chiến dịch lớn đánh vào nhân dân, trả thù những người kháng chiến, thẳng tay thi hành cái gọi là “Quốc sách tố cộng, diệt cộng”, “Luật 10/59”…

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 (tháng 1/1959) xác định con đường, mục tiêu, phương pháp cách mạng ở miền Nam, mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam - Bắc; giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày 28/8/1959 nhân dân nhiều xã trong huyện Trà Bồng (tỉnh Quảng Ngãi) nổi dậy giành chính quyền. Ngày 17/01/1960, nhân dân các huyện Mỏ Cày, Minh Tân, Thạnh Phú tỉnh Bến Tre nhất loạt nổi dậy, phá thế kìm kẹp, tạo nên phong trào “Đồng Khởi” lan rộng ra ở nhiều tỉnh Nam Bộ, Khu 5. Từ phong trào “Đồng Khởi”, lực lượng vũ trang và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp của ta từng bước hình thành. Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập.

Để chi viên sức người, sức của cho chiến trường miền Nam Bác Hồ Và Bộ Chính trọ đã quyết định mở tuyến chiến lược trên Trường Sơn, sau này được gọi là Đoàn 559. Cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam được phát động một cách độc đáo, khéo léo, phù hợp với thời cơ lịch sử. Cách mạng miền Nam đã vượt qua giai đoạn khó khăn, chuyển hẳn sang thế tiến công. Từ cuối năm 1960, hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm bị thất bại, đế quốc Mỹ vội vàng thay đổi, chuyển sang dùng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.

< Di tich đường 10 Cũ từ ngã Ba Dân Chủ đi xuôi dốc xuống đến ngầm Dân Chủ tại km 71 đường 10.

Để đối phó với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng miền Nam, đế quốc Mỹ đã thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Chúng đưa tiền của, vũ khí và cố vấn vào miền Nam, chỉ huy quân đội ngụy tiến hành chiến tranh, càn quét, dồn dân, theo chiến thuật “tát nước bắt cá”. Với kinh nghiệm đấu tranh, quân và dân miền Nam đã sáng tạo ra hình thức tiến công “hai chân (quân sự, chính trị), ba mũi (quân sự, chính trị, binh vận), ba vùng (rừng núi, đồng bằng, thành thị)”, tiến hành thắng lợi một số chiến dịch quy mô nhỏ và vừa (Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài), tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện kỹ thuật của địch, đẩu ngụy quyền Sài Gòn rơi vào tình trạng khủng hoảng triền miên.

Từ tháng 11/1963 đến tháng 6/1965, đã xảy ra 14 lần đảo chính và phản đảo chính ở miền Nam. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Manara từ miền Nam Việt Nam về báo cáo trước Nhà Trắng và Quốc hội Mỹ rằng: “Quân lực Việt Nam cộng hòa đã không còn đủ sức chiến đấu, chế độ Sài Gòn đã thất bại”. Trước những thất bại liên tiếp của ngụy quân, ngụy quyền ở miền Nam, nhằm cứu vãn tình thế, Mỹ dựng nên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”. Ngày 05/8/1964, Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, hòng ngăn chặn sự chi viên sức người, sức của cho miền Nam.

Ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi lịch sử : “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm, hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” miền Bắc đã phát động nhiều phong trào thi đua ái quốc, “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”, “Tay búa, tay súng” của công nhân, “Ba quyết tâm” của tri thức tạo nên ý chí mới, sức mạnh mới cỗ vũ toàn dân đánh giặc. Trên chiến trường miền Nam, vừa xây dựng, vừa chiến đấu, lực lượng vũ trang quân giải phóng đã tổ chức các đợt tiến công, bẻ gẫy nhiều cuộc hành quân quy mô lớn của Mỹ - Ngụy.

Mở đầu là chiến thắng Núi Thành, Quảng Nam (26/5/1965), tiếp đó là chiến công vang dội đập tan hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965 - 1966, 1966 - 1967) làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân ta mở cuộc Tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, nhằm giáng một đòn quyết liệt và ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta thực sự là “một đòn sét đánh” đối với bọn trùm xâm lược Mỹ, làm chấn động dư luận thế giới. Thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari. Sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của dân tộc ta đã có điều kiện mở ra mặt trận tiến công mới về ngoại giao “vừa đánh, vừa đàm”. Thất bại trên chiến trường miền Nam, đế quốc đã nham hiểm thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, dùng người Việt đánh người Việt, mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương. Quân và dân ta đã phối hợp với quân đội và nhân dân Lào, Campuchia, đánh địch trên khắp chiến trường, đập tan quá trình tiến công, phản kích bằng các cuộc hành quân lớn của địch.

< UBND xã Hướng Lập.

Đầu năm 1972, quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam, làm thay đổi so sánh lực lượng và thay đổi cục diện chiến tranh, dồn Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn vào thế yếu trầm trọng hơn. Với tinh thần dũng cảm, bằng cách đánh mưu trí, linh hoạt, quân và dân miền Bắc đã đánh thắng cuộc tập kích chiến lược lần thứ 2 bằng B52 của Mỹ, lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không” tại bầu trời Hà Nội bắn rơi hơn 600 máy bay, trong đó có chiếc thứ 4.000 bị bắn rơi trên miền Bắc, bắn chìm và bắn cháy gần 100 tàu chiến Mỹ. Thắng lợi to lớn của quân và dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc, buộc Mỹ phải ký “Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam” (27/1/1973).

Tại Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10/1974 và đầu năm 1975, Đảng ta đã đánh giá so sánh lực lượng và đề ra quyết tâm giải phóng miền Nam.  Với thế lực mới, quân và dân ta đã chủ động tiến công giải phóng Phước Long (06/1/1975). Ngày 04/3/1975, bí mật, bất ngờ mở chiến dịch Tây Nguyên. Ngày 10/3/1975, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Ngày 29/4/1975, quân và dân ta tiến hành tổng tiến công trên toàn mặt trận. Quân địch hoang mang cao độ, tan rã, rút chạy, đầu hàng từng bộ phận.  Trước thời cơ, vận hội mới, ngày 30/4/1975, các binh đoàn chủ lực của quân đội ta đột kích, thọc sâu kết hợp với lực lượng bên trong nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu của địch ở nội thành. Binh đoàn hỗn hợp của Quân đoàn 2 chiếm Dinh Độc Lập lúc 10 giờ 45 phút, bắt toàn bộ ngụy quyền trung ương, buộc chúng tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, cờ giải phóng đã tung bay trước tòa nhà chính “Dinh Độc Lập”.

< Giao lưu cùng lãnh đạo xã Hướng Lập và Cán bộ cs đồn Biên Phòng Cù Bai.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng. Trong hai ngày 30/4 và mùng 01/5/1975, bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, các Quân khu 8, 9 nắm thời cơ phát động quần chúng nhân dân nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã hàng ngũ địch, giải phóng hoàn toàn các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, giải phóng vùng biển, đảo của Tổ quốc. Hơn một triệu quân ngụy và cả bộ máy ngụy quyền bị đập tan, chế độ thực dân mới do đế quốc Mỹ xây dựng ở miền Nam đã hoàn toàn sụp đổ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 của quân và dân ta toàn thắng, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước sau nhiều năm bị chia cắt nay đã thống nhất. Ước nguyện của Bác Hồ năm 1969: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đã trở thành hiện thực.

Sau 30 năm chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề. Nhiệm vụ của Quân đội được Trung ương Đảng nêu rõ: “Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, ... bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của nước Việt Nam thống nhất”. Đồng thời “tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội” cùng cả nước xây dựng  nền quốc phòng toàn dân vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh. Theo nguyện vọng của nhân dân trong cả nước, ngày 17-10-1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định kỷ niệm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22-12-1944) cũng là Ngày hội Quốc phòng toàn dân. /

Bùi Hoằng
Hà Bình-Hà Trung-Thanh Hóa
Email: hoang***@gmail.com